Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 8

Kết quả hình ảnh cho thủy nguyên

Trần Phương

22. Làng Gia Đức (xã Gia Đức):

      Làng Gia Đức (còn gọi là Gia Đước), đến đời Đồng Khánh vẫn được liệt kê trong danh sách thuộc tổng Dưỡng Động, nhưng không hiểu vì lý do gì, ngay sau đó dân làng đã phiêu bạt mà không thấy sách nào chép tới. Những người già hiểu rõ về làng này cho biết: Ngày xưa Gia Đước lớn tới mức dân gian đã có câu “Thượng sao sa, hạ mỏ vịt” để nói về chiều dài, rộng của làng. Dấu tích còn lại của làng xưa còn khảo sát được dài tới 10 km, rộng 3 đến 5 km, quần tụ quanh những gò đống cao, có khu đê cừ bao quanh. Làng cũ có nhiều chợ như chợ Sưa, chợ Tây Sơn, chợ Đồn, chợ Đá Bia, mà chắc hẳn đã có một thời thịnh đạt. Giữa làng tương truyền còn có một dãy phố gọi là gọi là phố Khách. Theo các tác giả Nguyễn Văn Chính và Nguyễn Quang Ngọc trong bài “Bước đầu tìm hiểu làng xã Thủy Nguyên”, điều đáng quan tâm là làng này vì lý do gì đã bị phiêu tán đi hết để mãi đến sau thời Pháp, mới có một số người dân gốc quy về làng cũ.   

     Trước năm 1945, là xã Gia Đức (Đước), tổng Dưỡng Động, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên. Trước năm 1813, là xã Gia Đức (Đước), tổng Dưỡng Động, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương; từ năm 1901, xã Gia Đức (Đước), tổng Dưỡng Động chuyển về huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên.

    Đình Gia Đức thờ 2 vị thành hoàng: 1- Phổ Minh. 2- Đại nguyên súy (soái), tên húy Ngô Văn Đặng. Cả hai vị đều không rõ sự tích, đều được thờ bằng bài vị. Trước năm 1938, làng Gia Đức còn giữ được 2 sắc phong cho vị Đại Nguyên Súy, thuộc các đời: Thành Thái 1 (1889), Duy Tân 3 (1909). Ngày tế lễ hằng năm: 10-1 (tiểu kỳ phúc), 25-11 (đại kỳ phúc); ngoài ra, còn tế hạ điền (tháng 5), thượng điền (tháng 7).

23. Làng Giáp Động (xã Hoa Động):

      Trước năm 1945, là xã giáp Động, tổng Hoàng Pha, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Trước năm 1813, Giáp Động là thôn của xã Bính Động, tổng Lâm Động, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Đến năm 1901, thôn Giáp Động tách khỏi xã Bính Động ra biệt xã (thành lập xã riêng).

      Đình giáp Động thờ 5 vị thành hoàng: 1- Đông Hải Dũng Quyết hoằng thi quảng tế hàm chương bỉnh chính trác vĩ dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. 2- Nam Hải nguy tuấn huyền thông tĩnh an quảng lợi uông nhuận dực bảo trung hưng trung đẳng thần. 3- Hiển Liệt phù hựu hoằng thuần chính dực bảo trung hưng tôn thần. 4- Linh Ứng dực bảo trung hưng linh phù tôn thần. 5- Trần Triều hiển thánh nhân võ Hưng Đạo đại vương. Thần tích bị mất nhưng còn 6 bản sắc phong: đạo sắc năm Duy Tân thứ 5 (1911) tặng mỹ tự cho các vị Đông Hải, Nam Hải, Hiển Liệt; đạo sắc năm Khải Định 2 (1917) tặng mỹ tự cho vị Linh Ứng; 4 đạo sắc năm Khải Định 9 (1924) tặng mỹ tự cho các vị: Đông Hải, Hiển Liệt, Linh Ứng, Trần Hưng Đạo.

24. Làng Hà Luận (xã Hòa Bình):

    Nay là thôn thuộc xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên. Trước năm 1945, là xã Hà Luận, tổng Dưỡng Chính, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Trước năm 1813, là xã Hà Luận, tổng Dưỡng Chân, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Năm 1901, tổng Dưỡng Chân đổi thành tổng Dưỡng Chính.

25. Làng Hà Phú (xã Hòa Bình):

     Nay là thôn thuộc xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên. Trước năm 1945, là xã Hà Phú, tổng Dưỡng Chính, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Tên gọi có muộn nhất trước thế kỷ XIV. Trước 1813, là xã Hà Phú, tổng Dưỡng Chân, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

     Miếu Hà Phú thờ 3 vị thành hoàng là 3 anh em: 1- Cao Sơn, anh cả, tên húy Thế. 2- Thiện Tế, tên húy Hoằng Nương. 3- Chinh Uyển (có lẽ là Trinh Uyển), tên húy Miếu Nương. Theo thần tích (hai vị sau là em gái của Cao Sơn), ba anh em sinh ra trong một bọc (ngày 15-5), hóa cùng một ngày (11-10), không rõ năm, đều có công phò vua Trần đánh giặc ở sông Bạch Đằng. Cả 3 vị đều được thờ bằng bài vị. Trước năm 1938, làng Hà Phú còn giữ được sắc phong đời Khải Định 9 (1924) và sách ghi sự tích. Ngày tế lễ hằng năm: 15-5, 11-10; ngày 1-1 tế xuân; không tế thượng điền, hạ điền; riêng ngày 15-5 tế kỳ phúc; kiêng húy các chữ “Thế”, “Hoằng Nương”, “Miếu Nương”.

26. Làng Hà Tây (xã Trung Hà)

      Trước năm 1945, là xã Hà Tây (còn gọi Hà Tê), tổng Thủy Tú, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Vốn là thôn, đời Đồng Khánh chuyển lên xã. Tên gọi có muộn nhất trước thế kỷ XV. Trước 1813, là thôn Hà Tê, tổng Thủy Đường, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

     Đình Hà Tây thờ 2 vị thành hoàng: 1- Ninh Sơn công chúa, tên húy Vi, không rõ sự tích, được thờ bằng bài vị; không có sắc phong. 2- Minh Sơn tôn thần, tên húy Bích, không rõ sự tích. Tương truyền, cả hai người có công đắp đê ngăn mặn cho dân; đều được thờ bằng bài vị; không rõ sắc phong. Ngày tế lễ hằng năm: 4-1, 15-8; không tế xuân, thu, thượng và hạ điền; tế kỳ phúc ngày 10-11.

(Còn tiếp)