Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 7

Kết quả hình ảnh cho thủy nguyên

Trần Phương

19. Làng Đạo Tú (xã Liên Khê):

      Trước năm 1945, là xã Đạo Tú (còn gọi Điệu Tú, Diệu Tú), tổng Trúc Động, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên. Trước năm 1901, là xã Điệu Tú, tổng Trúc Động, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Trước năm 1813, là xã Diệm (?) Tú (có sách ghi Diệu Tú), tổng Trúc Động, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

    Đình và miếu Đạo Tú thờ 3 vị thành hoàng: 1- Linh Ứng Cương Nghị Đại Vương. 2- Duyên Khoan Hòa Đại Vương. 3- Mỹ Ngọc Yểu Điệu Đoan Dong Đào Hoa Phi Tiên công chúa. Tương truyền, là 3 anh em ruột, có công đánh giặc đời Lý Nam Đế. Cả ba được thờ bằng bài vị và long ngai. Trước 1938, xã Đạo Tú còn giữ được một số sắc phong. Ngày tế lễ hằng năm: 13-7, 9-10 (ngày sinh); 14-8 (ngày hóa); nhưng không rõ của vị nào.

20. Làng Đông Môn (xã Hòa Bình):

   Thời phong kiến, là xã Đông Môn thuộc tổng Lương Kệ, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Sau khi Pháp xâm lược, xã Đông Môn thuộc tổng Lương Kệ, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Phù Liễn (sau đổi là Kiến An). Tên gọi Đông Môn có muộn nhất từ thời Đinh - Tiền Lê. Tục truyền đời Tiền Lê, làng Đông Môn có bà Phạm Thị Trân được vua phong chức Ưu Bà, dạy hát trong quân đội. Trước đó, khi Lê Hoàn cầm quân bày trận đánh giặc Tống trên sông Bạch Đằng năm 981, trong đội quân đồn trú ở trang Đông Môn, có người lính biết hát ca trù, đã đem truyền dạy cho dân làng. Ca trù xuất hiện ở Đông Môn từ ngày đó.

    Làng Đông Môn còn lưu truyền truyền thuyết về bà Chúa Sang (Phạm Thị Sang), một đào hát “lai kinh chúc hỗ”, hát hay, múa giỏi được Chúa Trịnh Giang (1729-1740) phong làm thứ phi. Bà được cấp 10 mẫu ruộng lộc điền ở Đông Môn quê nhà. Sau khi bà mất, hai em bà hưởng thừa tự, mộ hai ông nay vẫn còn. Dân làng đã tạc tượng bà Chúa Sang thờ tại chùa làng. Sau, do chiến tranh, loạn lạc, thời thế thay đổi, chùa bị phá, tượng bà Chúa Sang bị thất lạc. Sau bà Chúa Sang, làng Đông Môn có ông trùm trưởng Tô Tiến có công sáng lập Giáo phường Đông Môn và hưng công xây dựng đền Ca Công (phủ từ).

    Trước năm 1945, người làng Đông Môn chủ yếu sống bằng nghề hát ca trù, có nhiều đào hát có giọng tốt như đào Hỗ, đào Tân, đào Xuyến…và kép đàn giỏi như cụ Bốn, cụ Bút, ông Tăng, ông Nghị…Người thì mở hát tại nhà, có người lên Hà Nội, sang Hải Phòng, ra Quảng Yên, vào Sài Gòn mở  ca quán, nhà hát. Cũng có người đi hát trong hàng tổng, hàng huyện, hàng tỉnh từng đợt theo lời mời của những nơi cần. Đào, kép ở Đông Môn nổi tiếng đàn ngọt, hát hay. Nhà hát của ông Phạm Cửu Tuế và vợ là ca nương Linh Thị Thoa, người làng Đông Môn mở ở phố Khâm Thiên (Hà Nội) nổi tiếng vì có nhiều đào, kép đạt trình độ nghệ thuật cao, tuyển chọn từ quê nhà đưa lên. Vì ở Đông Môn có phủ từ thờ tiên sư, tiên thánh (đền Ca công), hằng năm hội chính mở vào ngày 24-3 âm lịch, “con cháu nhà thánh” ở các nơi như Hà Nam, Phủ Lý, Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Yên…về làm lễ, còn nghệ nhân ca trù Đông Môn thì không phải đi lễ ở nơi khác.

    Về thần tích, thần phả không thấy có, chỉ còn một bản thần sắc đời Gia Long (1802-1819). Nội dung bản thần sắc này cho biết, hai thần Ca công Đông Môn được vua Gia Long phong tặng 2 lần, một lần vào ngày 15-2 năm Giáp Tý (1804) được ban chữ đẹp (mỹ tự) và ngày 15-6 năm Gia Long thứ 9 (1810) được thăng trật. Thần sắc cũng cho biết vợ chồng công chúa này vốn là chính thần thuộc Ty giáo phường Bắc Thành thờ và được các triều đại trước khen tặng (lịch triều ban tặng) về công lao dạy nghề. Hai vị tổ nghề thờ ở Phủ từ Đông Môn là: Mãn Đường Hoa Công chúa và Đinh Dự Thanh Xà đại vương.

21. Làng Đồng Lý (xã Mỹ Đồng):

    Trước năm 1945, là xã Đồng Lý, tổng Thái Lai, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Tên gọi có muộn nhất trước thế kỷ XIII. Trước năm 1813, là xã Đồng Lý, tổng Thái Lai, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Theo thần tích, Sĩ Quyền vốn là một trang hào kiệt từ phương Bắc về trang Đồng Lý lánh nạn, đã giúp viên quan lang họ Đỗ ở Châu Hoan (Nghệ An) chống nhau với quân Tô Định trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Ở làng Đồng Lý vẫn bảo lưu một số địa danh về cuộc khởi nghĩa này như: khu Quan Đầu – nơi Sĩ Quyền và dân bản trang lập phòng tuyến chống giặc Đông Hán, khu Đống Mả (còn gọi khu Đống Khế) – nơi Sĩ Quyền giao tranh với giặc mạnh, đã anh dũng hy sinh; khu Đồng Bún – vết tích của chợ làng xưa; Rộc Bến – vốn là bến thuyền nhộn nhịp một thời…

     Đình Đồng Lý (di tích lịch sử - văn hóa xếp hạng quốc gia) thờ thành hoàng hiệu Thiên Trấn Công, húy Quyền; sinh ngày 5-1, hóa ngày 1-12 (đều không rõ năm); hiển thánh thời Trần, phù vua Trần Anh Tông đánh giặc, sự tích còn lưu ở làng. Trước năm 1938, còn giữ được một số sắc phong thuộc các đời: Trần Anh Tông, Gia Long (đều không rõ năm), Tự Đức 6 (1853) và 33 (1880), Duy Tân 3 (1909), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 5-1, 1-12; không tế xuân, thu, thượng, hạ điền; hằng năm, hội đình Đồng Lý diễn ra từ ngày 8 đến 12-1 âm lịch.

(Còn nữa)