Làng cũ Thủy Nguyên - Phần 6

Kết quả hình ảnh cho thủy nguyên

Trần Phương

16. Làng Dương Xuân (xã Lại Xuân):

     Nay là thôn thuộc xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên. Trước năm 1945, là xã Dương Xuân, tổng Thượng Côi, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Tên gọi có muộn nhất trước thế kỷ XV. Trước 1813, là xã Dương Xuân, tổng Thượng Côi, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

      Đình Dương Xuân thờ thành hoàng tên hiệu Hồng Ân Bác Đức, không rõ sự tích; được thờ bằng ngai và bài vị. Trước năm 1938, làng Dương Xuân còn giữ được 2 sắc phong thuộc các đời: Duy Tân 3 (1911), Khải Định 9 (1924). Ngày tế lễ hằng năm: 5-1, 1-5 (hạ điền), 1-9 (thượng điền), 27-12; không tế xuân, thu.

17. Làng Dưỡng Chính (xã Chính Mỹ):

    Trước năm 1945, là xã Dưỡng Chính, tổng Dưỡng Chính, phủ Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An. Trước năm 1901, là xã Dưỡng Chân. Trước năm 1813, là xã Dưỡng Chân, tổng Dưỡng Chân, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

    Đình và miếu Dưỡng Chính thờ thành hoàng là 4 anh em ruột người địa phương: 1- Hoàng Uy; 2- Hoàng Tế; 3- Hoàng Thiện; 4- Hoàng Trinh Nương. Bốn vị có công giúp vua Lý dẹp quân Chiêm quấy rối cõi bờ, được vua phong cho 3 vị Hoàng Uy, Hoàng Tế, Hoàng Thiện là Đô Hộ đại tướng quân; cho Hoàng Trinh Nương là Bình Nguyên công chúa. Sau khi 4 anh em mất tại quê nhà, vua sai lập đền thờ và phong thần hiệu: Thiên Tích diệu hoằng cơ cán hộ quốc đại vương, Trung Quốc dẫn phù ngư minh linh đại vương, Quảng Tế huệ trạch thiên ứng đại vương, Thiệu Trinh tôn linh công chúa.

     Làng Dưỡng Chân vốn là điền trang của Hưng Ninh Vương Trần Tung (Trần Quốc Tung), đạo hiệu Tuệ Trung Thượng Sĩ là anh trai của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn Ông là một nhà Phật học nổi tiếng. Hưng Ninh Vương Trần Tung đã cho dựng tĩnh thất ở Dưỡng Chân (sau đổi là Dưỡng Chính) để tu thiền, hoằng dương Phật pháp. Ông là người giác ngộ giáo lý nhà Phật cho Trúc Lâm Đệ nhất tổ - Phật hoàng Trần Nhân Tông và trực tiếp tham gia kháng chiến chống Nguyên – Mông xâm lược.

      Làng Dưỡng Chân là quê của Trần Cao, người cầm đầu cuộc khởi nghĩa nông dân lớn và tiêu biểu nhất thế kỷ XVI. Trần Cao từng làm chủ vùng Hải Dương - Kinh Bắc - An Bang rộng lớn, nhiều lần đem quân uy hiếp kinh thành Thăng Long. Trần Cao từng giữ quan nhỏ trong triều đình nhà Lê: Điện Thuần Mỹ, sau lấy danh nghĩa tôn thất nhà Trần để tập hợp lực lượng chống lại triều đình Lê mạt. Ông biết sử dụng sức mạnh của sấm ký, dựa hẳn vào tầng lớp sư sãi, đạo sĩ, mặc áo đen và xưng là Đế Thích giáng sinh. Cuộc khởi nghĩa Trần Cao khoác thêm màu sắc tôn giáo để giành giật lực lượng với triều đình. Đạo Phật, Đạo giáo ở đây chỉ là phương tiện. Nhiều nhân vật trong bộ chỉ huy khởi nghĩa là người Chiêm Thành (xuất thân từ nô tỳ) đã có nhiều tác động đến khuynh hướng của cuộc khởi nghĩa. Mùa hè năm Bính Tý (tháng 5-1516) Trần Cao dời căn cứ Thủy Đường – Đông Triều ào ạt đổ quân vào Kinh Bắc làm chủ một dải Quế Dương, Tiên Du, Gia Lâm. Thuyền bè của nghĩa quân kín dòng sông Đuống, sông Hồng để áp bến Bồ Đề (Gia Lâm).

   Dưỡng Chính có mỏ quặng sắt, trữ lượng khoảng 1 triệu tấn.

18. Làng Dưỡng Động (xã Minh Tân):

       Trước năm 1945, là xã Dưỡng Động, tổng Dưỡng Động, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên. Thời cổ, là trang Dưỡng Động. Trước năm 1813, xã Dưỡng Động, tổng Dưỡng Động thuộc huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Từ 31-1-1898, xã Dưỡng Đông, tổng Dưỡng Động thuộc huyện Thủy Nguyên, tỉnh Phù Liễn. Từ năm 1901, xã Dưỡng Động, tổng Dưỡng Động được cắt về huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên.

    Làng Dưỡng Động (tên nôm là Dãng), cách đây 300 năm có 12 dòng họ tụ cư (ngọc phả còn ghi) gồm Nguyễn, Lê, Đỗ, Phạm, Vũ, Hoàng, Bùi, Đinh, Mạc, Tô, Hồ, Đàm. Làng chia làm 5 giáp, mỗi giáp đều có đình, chùa riêng. Cả làng có tới 6 ngôi đình. Đình Cả (tức đình Tây) là ngôi đình chung. Hội làng mở vào rằm tháng giêng hàng năm. Làng có 7 quán đều xây bằng đá: Quán Tuần, quán Hàn, quán Đồng Giá, quán Đồng Bài, quán Đồng Nẻo, quán Trại, quán Xóm Hang.

     Dưỡng Động là quê các nhà khoa bảng: 1- Nguyễn Lộc (1529- ?), đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1562, làm quan đến chức Phủ doãn phủ Phụng Thiên. 2- Vũ Cảnh (1462 - ?), đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1487, làm quan nhà Lê đến chức Thượng thư kiêm Đô ngự sử, còn 5 bài thơ chép trong “Toàn Việt thi lục”.

      Làng Dưỡng Động xưa có 5 cổ tự: chùa Trung (tên chữ Linh Khiếu Tự), chùa Tây (tên chữ Hàm Long Tự), chùa Đông (tên chữ Hội Long Tự), chùa Bến (tên chữ Linh Quang Tự) và chùa Diệp. Các cổ tự này vẫn còn lưu giữ một số cổ vật, di vật có giá trị như: chuông đồng chùa Trung niên hiệu Chính Hoà nhị thập ngũ niên (1704); chuông đồng chùa Đông niên hiệu Vĩnh Thịnh ngũ niên (1709); chuông đồng chùa Tây niên hiệu Cảnh Hưng thập tam niên (1752); Thạch thiên đài trụ chùa Tây niên hiệu Chính Hoà vạn thế (1680-1705); Thạch thiên đài trụ chùa Trung niên hiệu Chính Hoà nhị thập nhất niên (1700); Thạch thiên đài trụ chùa Bến dựng năm Kỷ Tỵ niên hiệu Chính Hoà (1689); Thạch thiên đài trụ chùa Diệp dựng năm Vĩnh Thịnh thất niên (1711)...

    Đình và miếu Dưỡng Động thờ 8 vị thành hoàng, tên húy: Minh, Phổ, Tế, Trân, Hiển, Quang, Tấn, Tuấn. Theo thần tích xã Dưỡng Động, thời Hùng Duệ Vương (Hùng vương thứ 18), có viên Quan Lang Bộ Chúa ở Châu Ái (Thanh Hóa ngày nay) họ Hùng húy Phục (thường gọi là Phục Công) đến trang Dưỡng Động, thấy phong cảnh đẹp liền ở lại định cư. Vùng này có vợ chồng ông Hoàng Nhân Công nhân từ, chăm làm điều thiện, sinh được người con gái hiền thục, tên là Quế Nương. Phục Công  nhờ người mai mối cưới nàng Quế Nương làm vợ. Một hôm, Quế Nương ra sông tắm bị con giao long dài mười trượng, có mào, vẩy ngũ sắc quấn chặt ba vòng. Bà Quế Nương có thai, sau đó đủ trăm ngày thì sinh một bọc bốn trứng, nở ra 3 trai, 1 gái. Phục Công lấy làm lạ, lập đàn cúng tế. Hùng Duệ Vương cho rằng đó là người của Thủy Tề Long Vương. Về sau bốn anh em kết thân với bốn tướng họ Cao là Cao Hiển, Cao Quang, Cao Tấn, Cao Tuấn ở núi Tản Viên về trang Dưỡng Động giúp Hùng Duệ Vương chống lại quân Thục. Sau khi dẹp yên giặc, cả 8 vị cùng hóa một ngày ở trang Dưỡng Động, Hùng Duệ Vương sức cho dân chúng xây dựng đền thờ và tước hiệu cho các vị là: Danh Sơn Anh Tú tự Công Linh Hải Quang Chính đại vương; Đông Hải Long Vương Uy Linh Hách Hoàn đại vương; Cao Sơn Linh Quang Uy Trấn Dũng Lược đại vương; Cao Sơn Hiển Phương Quảng Lực đại vương; Trung Lang Diệu Hoằng Quảng Tế Dương Vũ Công Phù Minh Phổ đại vương; Cao Sơn Quảng Đạt đại vương; Cao Sơn Cương Nghị Hùng Đoán đại vương; Quỳnh Trân Công Chúa Ngọc Nữ đại vương. Cả 8 vị đều được thờ bằng tượng. Ngày tế lễ hằng năm: 2-1 “Lễ dùng lợn toàn sắc 12 con, xôi 12 bàn, rượu dùng và các thứ trầu để tế lễ ca hát 7 ngày. Lại sai tu soạn bàn chay, bánh chay, bánh tròn, mỗi thứ 12 bàn cùng nghênh đến hội để tế tại cung sở, ca hát ba ngày nghỉ”; 8-11 “Lễ dùng lợn toàn sắc 12 con, xôi 12 bàn. Trước hôm tế một ngày, nghênh rước đến nơi cùng làm lễ, giao cho quan chủ tế để tế rồi mới đưa về các miếu nơi hóa làm lễ tạ, cấm việc ca hát”;  18-6 (khánh hạ)…“Kiêng húy 8 chữ là: “Minh”, “Phả”, “Tế”, “Trân”, “Hiển”, “Quang”, “Phổ”, “Tuấn”, cùng kiêng tên húy thánh phụ, thánh mẫu xem rõ trong sự tích, nên tránh cả âm đọc đều cấm cả”.

    Núi Vệ ở làng Dưỡng Động có hang Vua được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

     Núi Hang Lương ở làng Dưỡng Động là căn cứ của Thành ủy Hải Phòng trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1955)

     Đình Tây (còn gọi là đình Cả) và chùa Tây (Hàm Long Tự) được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

(Còn nữa)

Hải Phòng Học

Cám ơn Ts Bùi Xuân Tuấn

Cám ơn Ts Bùi Xuân Tuấn, mời anh tiếp tục đọc và góp ý cho những bài viết mới trên haiphonghoc.vnweblogs.com

Bùi Xuân Tuấn

cảm nhận

Cám ơn TG Trần Phương có bài viết rất giá trị .

Xin góp mấy vần khi XT tham dự trồng cây Bồ đề tại chùa tây năm 2014:

 

Chùa Tây
Chùa Tây tên tự Hàm Long
Toạ lạc trên đất thôn Hồng Thạch đây
Minh Tân có lịch Sử dầy
Nay càng linh lắm cùng cây Bồ đề
Muôn dân phật tử tụ về
Dâng hương giữ trọn lời thề bấy lâu
Giữ gìn truyền thống sắc sâu
Dựng xây đất nước mạnh giàu văn minh.